GIỚI THIỆU

Để giải quyết phần lớn các trường hợp sai khớp cắn thì cần tạo khoảng. Để đạt được phần lớn các mục tiêu điều trị thì cần tạo khoảng trong cung hàm. Cần bao nhiêu khoảng để giải quyết một trường hợp sai khớp cắn cần được thảo luận chi tiết trong kế hoạch điều trị.

Bảng 1. Khoảng trống cần để

Screen Shot 2019-02-04 at 1.31.04 PM

Những phương pháp khác nhau giúp tạo khoảng bao gồm:

  1. Mài kẽ
  2. Nong rộng cung hàm
  3. Di xa răng cối lớn
  4. Dựng trục răng nghiêng
  5. Chỉnh xoay các răng sau
  6. Làm nhô các răng trước
  7. Nhổ răng

MÀI KẼ

Mài kẽ liên quan đếnviệc giảm chiều rộng gần xa của một số răng nào đó để tạo khoảng. Các răng thường được mài kẽ là các răng cửa hàm dưới. Những răng khác bao gồm các răng trước hàm trên và các răng cối nhỏ của cả hai cung hàm cũng có thể được mài kẽ để tạo khoảng trống. Các răng được chọn tùy thuộc vào:

  • Vị trí kích thước răng thừa, vùng trước hàm dưới hoay hàm trên, hoặc vùng sau hàm dưới hay hàm trên.
  • Lượng mất cân xứng
  • Độ dày men răng hiện diện ở các răng trong vùng
  • Tình trạng sâu răng hoặc vệ sinh răng miệng của bệnh nhân

CHỈ ĐỊNH MÀI KẼ

  • Được thực hiện khi cần khoảng tối thiểu (2.5 – 3 mm)
  • Thường được thực hiện khi có sự bất cân xứng về kích thước răng theo chỉ số Bolton (ít hơn 2.5mm)
  • Thường được thực hiện khi vùng răng dưới thừa nhiều, điều này không có nghĩa là nó không được thực hiện ở những vùng khác trên cung hàm.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH MÀI KẼ

  • Bệnh nhân dễ bị sâu răng
  • Không thực hiện mài kẽ khi bệnh nhân trẻ tuổi với răng có buồng tủy lớn

THỦ THUẬT

Việc mài kẽ liên quan đến ba bước:

  1. Đánh giá khoảng trống cần thiết
  2. Lựa chọn răng và lượng men răng cần mài
  3. Mài men

Đánh giá khoảng trống cần thiết

Phân tích đường kính cung hàm hoặc phân tích Carey được dùng để đánh giá khoảng trống cần thiết cho hai cung hàm. Một trường hợp có kích thước răng lớn nhưng ít hơn 2.5 mm trên mỗi cung hàm thì lý tưởng cho việc mài kẽ. Phân tích Bolton cũng có thể được dùng để đánh giá lượng răng thừa và để xác định vùng cần mài bớt.

Lựa chọn răng và lượng men cần mài

Các răng thường được mài kẽ nhất là các răng cửa hàm dưới nhưng tất cả các răng ngoại trừ răng cối lớn bị gắn khâu thì đều có thể được mài kẽ. Các răng trước hàm trên có thể được mài kẽ nếu như kích thước răng vị dư ở vùng răng trước và độ dày men răng đủ.

Để đánh giá độ dày men răng, người ta khuyên nên chụp phim quanh chóp trong miệng. Kỹ thuật côn dài là lý tưởng nhằm giảm khả năng hình ảnh bị biến dạng. Không quá một nửa độ dày men răng được loại bỏ. Người ta khuyên nên phân bố khoảng trống cần mài lên một lượng lớn răng và giữa mặt gần và mặt xa, như vậy giảm lượng men bị mài ở một vị trí nào đó.

Mài men

Mài men thường được thực hiện bởi:

  • Dải kim loại mài kẽ

Dải kim loại với các phân tử mài mòn gắn sẵn trên bề mặt. Chúng thường có một mặt không làm việc, chẳng hạn như chỉ có một mặt được gắn các phân tử mài mòn. Cây giữ dải mài kẽ được bán sẵn trên thị trường hỗ trợ cho việc sử dụng dải mài kẽ tốt hơn. Tùy thuộc vào kích thước các hạt gắn trên dải kim loại và dải mài kẽ có thể chia làm dải thô, trung bình hoặc mịn. Thường thì dải mịn được sử dụng nhiều vì nó tránh việc làm trầy xước men răng.

Screen Shot 2019-02-03 at 4.37.02 PM

Hình 1A. Dải kim loại mài kẽ

Screen Shot 2019-02-03 at 4.37.15 PM

Hình 1B. Cây giữ dải mài kẽ

  • Đĩa kim cương đục lỗ

Đĩa kim cương đục lỗ được sử dụng rộng rãi cho mục đích này. Chúng tương đối mềm dẻo và mài kẽ cả hai răng kế cận nhau.

Screen Shot 2019-02-03 at 4.38.35 PM

Hình 1C. Đĩa kim cương đục lỗ

  • Đĩa corborundum một mặt nhẵn

Loại này được sử dụng để mài sơ khởi. Nhưng vấn đề vốn có là cứng và giòn, có khả năng cao bị gãy và làm tổn thương bệnh nhân cũng như bác sĩ. Loại này khó sử dụng ở vùng răng sau.

  • Mũi khoan

Mũi khoan thẳng và thuôn có thể được sử dụng để mài kẽ. Chúng thường để lại sẹo sâu trên men răng và vì vậy cần dũa lại bằng dải kim loại mài kẽ để làm bóng vùng này.

Răng được mài kẽ có khuynh hướng dễ nhạy cảm hơn vì giảm chiều dày của men răng. Điều này dẫn đến nguy cơ nhạy cảm và sâu răng. Bề mặt men răng bị trầy cũng dễ dính mảng bám hơn. Điều này cần một chế độ vệ sinh răng miệng cẩn thận và sử dụng flouride. Những việc này giúp giảm nhạy cảm và bảo vệ răng khỏi vị axit trong thức ăn tấn công gây sâu răng.

Screen Shot 2019-02-03 at 4.38.48 PM

Hình 1D. Mũi khoan kim cương mịn mảnh

  • Ưu điểm của mài kẽ
  • Có thể tránh việc nhổ răng ở những trường hợp nằm trong ranh giới khoảng cần thiết tối thiểu.
  • Có thể giảm kích thước những răng có kích thước vượt quá, đặt lồng múi, cắn phủ và cắn chìa tốt hơn.
  • Tiếp xúc diện rộng có thể làm kết quả ổn định hơn.
  • Những vùng răng không thẳng có thể được sửa chữa mà không làm liên quan đến quá nhiều răng, đặc biệt là ở những bệnh nhân trưởng thành.
  • Nhược điểm của mài kẽ
  • Nhạy cảm thường được thấy nhất khi thực hiện thủ thuật này
  • Bề mặt men răng gồ ghề tăng nguy cơ bị sâu răng
  • Khó khăn trong việc tái tạo lại hình dáng răng. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp răng trước hàm trên. Hình dạng răng được tạo ra có thể không thẩm mỹ.
  • Mất tiếp xúc bên có thể dẫn đến dắt thức ăn.

NONG RỘNG CUNG RĂNG

Nong rộng cung răng là một trong những phương tiện cũ nhất để tạo khoảng cho cung răng. Nong rộng vẫn còn là một vấn đề mà các bác sĩ chỉnh nha vẫn đang tranh cãi. Nong nhanh so với nong chậm. Nếu nong nhanh thì nên thực hiện ở độ tuổi nào? Thời gian bao lâu? Và bao nhiêu là đủ? Khi nào nên nong nhanh và khi nào nên nong chậm? Những điều tranh cãi sẽ tiếp tục và việc sử dụng các thiết bị nong rộng cũng vậy. Điều rõ ràng đó là về căn bản thì thời gian thực hiện để đạt được độ nong rộng như mong muốn, các thiết bị nong rộng có thể được phân loại thành:

  • Khí cụ nong nhanh hàm trên
  • Khí cụ nong chậm

KHÍ CỤ NONG NHANH HÀM TRÊN

Khí cụ nong nhanh được ghi nhận lần đầu tiên sử dụng vào năm 1860, khi Emerson C. Angell lần đầu tiên dùng một vít đôi để nong rộng cung răng trên ở một bé gái 14 tuổi rưỡi. Chiều rộng cung răng tăng lên 0.25 inch trong vòng 2 tuần với kết quả đường giữa bị hở. Dẫn chứng thứ hai về một thiết bị đơn giãn hơn mà không có sự sử dụng của ốc vít là vào năm 1877, khi Walter Coffin chứng minh sự mở rộng của cung răng hàm trên bằng cách dùng lò xo coffin. Lò xo coffin được biết đến là nguyên nhân gây tách đường giữa ở trẻ em. Tuy nhiên, thiết bị nong nhanh hàm trên theo thời gian không còn được dùng phổ biến nữa. Khí cụ nong chậm vẫn còn tồn tại cho đến 1956 khi Korkhaus giới thiệu lại khi cụ này ở Mỹ. Đó là một công việc khó khăn, với những nghiên cứu rộng rãi trên động vật, Andrew Haas đã cho phổ biến khí cụ nong nhanh hàm trên.

Screen Shot 2019-02-03 at 4.45.54 PM

Hình 2A. Mô hình mô tả khí cụ nong nhanh hàm trên của Emerson Angell

TRIẾT LÝ VỀ SỬ DỤNG KHÍ CỤ NONG NHANH HÀM TRÊN

Khí cụ nong nhanh hàm trên (RME: rapid maxillary expansion) về bản chất là một khí cụ nắn chỉnh xương – răng, tạo sự thay đổi bằng cách tách đường khớp giữa khẩu cái. Lý do là vì tác động lực mạnh lên xương khẩu cái, tách đường khớp giữa bên trong dẫn đến thay đổi xương thật sự. Răng thường được dùng cho mục đích truyền tải lực lên xương hàm trên.

GIẢI PHẪU ĐƯỜNG KHỚP GIỮA KHẨU CÁI VÀ XƯƠNG HÀM TRÊN

Khấu cái cứng được tạo thành từ mấu khẩu cái xương hàm trên và mấu hàm trên xương khẩu cái. Xương khẩu cái cùng với xương hàm trên cấu thành nên sàn mũi và một phần của thành bên xoang mũi. Xương khẩu cái khớp với xương hàm trên bởi một đường khớp ngang khẩu cái và đi lên thành bên của xoang mũi. Về phía sau, xương khẩu cái khớp với xương bướm. Xương hàm trên nối từ sau ra trước với các xương khác nhau bao gồm xương trán, xương sàn, xương mũi, xương lệ, xương gò má, v.v… Vì vậy, mặt trước và mặt sau xương tự do.

Đường nối giữa xương khẩu cái liên kết cặp xương khẩu cái với nhau và liên tục với đường khớp giữa xương hàm trên. Về mặt lý thuyết, nó tạo thành đường nối của ba cpawj xương đối diện nhau – xương tiền hàm, xương hàm trên và xương khẩu cái. Về mặt lâm sàng, chúng được điều trị như một thể thống nhất – đường nối giữa khẩu cái. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự phát triển của đường giữa khẩu cái trải qua ba giai đoạn riêng biệt. Nó cho thấy nhiều biến thể mang tính cá nhân lớn liên quan đến việc đóng khớp, trong khoảng từ 15 đến 19 tuổi. Mức độ đóng khớp xảy ra ở phía sau hơn là phía trước với sự đóng khớp tối đa ở những thập niên thứ ba của đời sống.

TÁC DỤNG CỦA KHÍ CỤ NONG NHANH HÀM TRÊN

Ở răng và xương ổ răng hàm trên

Các răng sau được sử dụng như là điểm tựa để truyền lực lên xương hàm trên. Chúng có khuynh hướng bị nghiêng ngoài do lực nén lên dây chằng nha chu ở phía chiu áp lực. Có sự uốn cong của mào xương ổ răng cạnh đó cùng với sự nghiêng và/hoặc trồi có giới hạn của răng.

Có sự xuất hiện của khoảng trống rõ rệt giữa hai răng cửa, xuất hiện trong các ngày đầu dùng khí cụ nong nhanh hàm trên. Khoảng trống này thường bằng nửa khoảng cách mà ốc nới rộng được kích hoạt. Khoảng trống này được báo cáo là sẽ đóng lại đồng thời trong vòng 6 tháng do lực kéo của các sợi xuyên vách.

2b

Hình 2B. (1) Độ nghiêng ngoài trong bình thường của răng cối neo chặn, (2) Răng cối neo chặn bị nghiêng ngoài

2

Hình 2C. Hình ảnh bệnh nhân trước và trong quá trình điều trị bằng Hyrax 

2di

Hình 2Di. Hiệu quả nong nhanh hàm trên lên đường giữa khẩu cái. Lưu ý khe thưa ở đường giữa

21

Hình 2Dii. Khoảng trống đường giữa được đóng trong vòng 6 tháng do sự kéo của các sợi transeptal

Tác động lên xương hàm trên

Mấu xương khẩu cái tách ra thành một hình tam giác hoặc hình nêm khi nhìn từ mặt nhai. Các điểm phía trước và dưới nhất di chuyển tối đa. Một tam giác mở tương tự cũng được thấy theo hướng trước – sau, lớn nhất hướng về khoang miệng và ít dần về hướng mũi.

2e

Hình 2E. Tách đường khớp giữa khẩu cái hình tam giác khi nhìn từ phim mặt nhai

25

Hình 2F. Sự tách xương hàm trên hình tam giác khi nhìn theo chiều trước sau

Tác động lên xương hàm dưới

Xương hàm dưới xoay xuống dưới và ra sau do chuyển động xuống dưới của các răng sau hàm trên theo hướng mặt ngoài. Múi trong của các răng sau hàm trên, theo lý tưởng thì khớp với rãnh mặt nhai của các răng sau hàm dưới, nay có khuynh hướng khớp với sườn trong của múi ngoài các răng này, tạo hiệu ứng mở khớp cắn.

Lên xoang mũi và xương sọ cạnh đó

Khí cụ nong nhanh hàm trên có khuynh hướng tăng khoảng không gian trong mũi vì các thành ngoài của xoang mũi di chuyển sang hai bên và làm phẳng xương khẩu cái, khiến cho sàn mũi rộng hơn. Cải thiện đường thở bằng mũi là điều hầu như được chấp nhận rộng rãi. Mắt cũng như xương gò má có dấu hiệu tổ chức lại theo đường khớp, đặc biệt là ở những người trẻ.

  • Chỉ định dùng nong nhanh hàm trên

Khí cụ nong nhanh xương hàm trên được chỉ định lý tưởng ở những cá nhân đang tăng trưởng với cung hàm trên hẹp nghiêm trọng, liên quan đến việc cải thiện đường thở hoặc khuynh hướng thở miệng. Chúng cũng được chỉ định trong các trường hợp:

  • Cắn chéo răng sau với xương hàm trên hẹp thật sự hoặc tương đối hẹp
  • Bệnh nhân khe hở vòm miệng
  • Cùng với việc dùng facemask
  • Những trường hợp hạng III với xương hàm trên hẹp
  • Như là một phần của điều trị chỉnh nha can thiệp

CÁC LOẠI KHÍ CỤ NONG HÀM TRÊN

Theo thời gian, có nhiều loại khí cụ nong nhanh hàm trên được sử dụng. Chúng có thể được phân loại thành:

  • Khí cụ tháo lắp
  • Khí cụ cố định
  • Răng – xương
  • Răng và mô mềm – xương

Khí cụ nong nhanh hàm trên tháo lắp

Hiệu quả của khí cụ nong nhanh hàm trên vẫn còn đang nghi ngờ. Về cơ bản khí cụ bao gồm một ốc nong ở giữa với các móc lưu giữa ở vùng răng sau. Tấm nhựa bị chia đôi ở giữa và kích hoạt lực vít chia đôi hai nửa này dẫn đến việc nong như mong muốn. Khí cụ này hiệu quả hơn khi dùng trong giai đoạn sớm của răng hỗn hợp. Mức độ hiệu quả của nó ở giai đoạn muộn của răng hỗn hợp và những bệnh nhân lớn tuổi vẫn còn đang bị nghi ngờ vì sự cốt hóa của khớp giữa khẩu cái và dẫn đến trì hoãn việc tách đường khớp, khiến cho việc lưu giữ khí cụ bị ảnh hưởng. Sự tuân thủ của bệnh nhân là điều tối thượng khi dùng tất cả các khí cụ tháo lắp.

Khí cụ nong nhanh hàm trên cố định

Khí cụ nong nhanh hàm trên cố định có thể là liên quan đến răng – xương hoặc răng và mô mềm – xương. Khí cụ loại Isaacson và Hyrax là những minh họa tốt nhất cho khí cụ răng – xương.

KHÍ CỤ NONG NHANH HÀM TRÊN ISAACSON

Loại khí cụ Isaacson gồm một khung kim loại được hàn cả mặt ngoài lẫn mặt trong của răng cối lớn thứ nhất và khâu răng cối lớn. Một lò xo vít (được phát triển bởi trường Đại học nha khoa Minnesota) được hàn vào mặt trong của khung kim loại. Đóng đai ốc lại, dẫn đến khuynh hướng giãn lò xo, kích hoạt khí cụ nong rộng.

2g

Hình 2G. Loại khí cụ Isaacson

Khí cụ nong nhanh hàm trên Hyrax

Loại khí cụ này sử dụng vít Hyrax, được đặt tên do khả năng giữ sạch của khí cụ (HYRAX: hygienic rapid expander). Ốc vít có dây lớn kéo dài, có thể men theo đường viền khẩu cái và được hàn vào khâu kim loại hoặc vào khung kim loại có phủ nhựa acrylic hoặc được chôn trong nẹp nhựa acrylic.

Picture1

Hình 2H(i). Khí cụ nong nhanh hàm trên Hyrax

2

Hình 2H(ii). Trước và sau khi nong rộng bằng khí cụ RME

Screen Shot 2019-02-04 at 12.25.03 PM

Hình 2H(iii). Ốc nong RMC với máng nhựa

Derichsweiler hoặc khí cụ Hass là ví dụ tốt nhất cho khí cụ nong nhanh hàm trên răng và mô mềm – xương.

KHÍ CỤ NONG NHANH HÀM TRÊN DERICHSWEILER

Các đoạn dây được hàn vào khâu răng cối nhỏ và răng cối lớn; chúng được kết hợp trong một tấm nhựa acrylic chứa một ốc vít ở đường giữa. Khí cụ này hiếm khi được dụng ngày nay.

3

Hình 2I. Khí cụ nong rộng loại Derichsweiler

KHÍ CỤ NONG NHANH HASS

Khí cụ này là một khí cụ cứng chắc không chỉ truyền lực lên răng mà còn trực tiếp lên đường khớp khẩu cái. Nó có một khung dây cứng, được hàn vào khâu răng cối nhỏ thứ nhất và răng cối lớn cả mặt ngoài lẫn mặt trong. Đường kính dây 1.2mm mở rộng về phía khẩu cái kết hợp với một tấm nhựa acrylic có chứa ốc nới rộng ở đường giữa.

4

Hình 2J. Khí cụ nong rộng loại Hass

KÍCH HOẠT KHÍ CỤ NONG NHANH HÀM TRÊN

Nguyên tắc cơ bản của khí cụ liên quan đến việc tạo lực có khả năng tách đôi đường khớp giữa khẩu cái. Do đó, các lực chắc chắn là lớn hơn lực được dùng trong chỉnh nha. Lực tạo ra gần bằng 10 đến 20 pounds. Nong rộng từ 0.2 đến 0.5 mm mỗi ngày. Ốc vít được kích hoạt giữa 0.5 đến 1 mm mỗi ngày và nong được khoảng  1cm trong vòng 2 đến 3 tuần. Lịch kích hoạt có khuynh hướng khác nhau tùy vào tuổi của bệnh nhân và dạng khí cụ.

Timms kiến nghị kích hoạt khí cụ 90 độ, buổi sáng và buổi tối với bệnh nhân đến 15 tuổi. Với những bệnh nhân trên độ tuổi này, ông kiến nghị kích hoạt 45 độ bốn lần trong một ngày.

Zimring và Isaacson kiến nghị rằng xoay hai lần mỗi ngày trong vòng 4 đến 5 ngày, sau đó xoay 1 lần mỗi ngày đối với những bệnh nhân đang tăng trưởng. Với người trưởng thành, ông kiến nghị xoay hai lần mỗi ngày trong vòng hai ngày đầu, sau đó là xoay một vòng mỗi ngày trong vòng 5 đến 7 ngày tiếp theo và sau đó chỉ thực hiện một lần mỗi ngày cho đến khi đạt được sự nong rộng như mong muốn. Phẫu thuật có thể được sử dụng bổ sung vào trị liệu nong nhanh hàm trên ở những bệnh nhân trưởng thành, đặc biệt là những bệnh nhân từ 30 tuổi trở lên.

Duy trì sau liệu pháp nong nhanh hàm trên

Những điều chỉnh đạt được từ việc dùng khí cụ nong nhanh hàm trên có khả năng tái phát nếu như không có đủ thời gian để tái lập lại các mô cứng và mô mềm. Khớp cắn tương đối bị trật và không thể hỗ trợ việc duy trì được. Thông thường khí cụ giống vậy có thể được sử dụng để duy trì sau khi cố định ốc ít bằng nhựa acrylic nguội. Một cách khác để duy trì là dùng cung ngang khẩu cái (TPA)  hoặc bất cứ khí cụ nào khác. TPA có thuận lợi ở chỗ là việc điều trị bằng khí cụ cố định có thể được tiến hành mà không bị cản trở.

Screen Shot 2019-02-04 at 12.26.54 PM

Hình 2K. Dùng nhựa nguội acrylic để cố định ốc nong

Screen Shot 2019-02-04 at 12.27.02 PM

Hình 2L. Cung ngang khẩu cái để duy trì

KHÍ CỤ NONG CHẬM

Nong chậm là đứa con tinh thần của cha đẻ ngành nha khoa hiện đại, Pierre Fauchard. Nong chậm liên quan đến việc dùng tương đối ít lực (từ 2 đến 4 pounds) trong một khoảng thời gian dài (từ 2 đến 6 tháng) để đạt được kết quả như mong đợi. Nong chậm còn được gọi là nong răng xương ổ răng.

  • Chỉ định của nong chậm
  • Sửa chữa cắn chéo một bên
  • Sửa chữa cung răng hình chữ V do thói quen mút ngón tay
  • Chuẩn bị cho việc ghép xương ở những bệnh nhân bị khe hở vòm miệng
  • Chen chúc tối thiểu ở cung răng hàm trên (1-2mm)
  • Loại bỏ sự dịch chuyển

KHÍ CỤ ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ NONG CHẬM

Khí cụ ốc vít

Những ốc vít khác nhau được sử dụng để nới rộng cung hàm trên và hàm dưới. Những ốc vít này bước răng nhỏ hơn và được kích hoạt ít hơn so với ốc vít dùng trong khí cụ nong nhanh hàm trên.

Screen Shot 2019-02-04 at 12.29.01 PM

Hình 3A. Nong hàm trên với một ốc vặn ở đường giữa

Screen Shot 2019-02-04 at 12.29.11 PM

Hình 3B. Khí cụ hàm dưới với một con ốc ở giữa

Lò xo Coffin

Khí cụ này có khả năng tạo lực nong chậm, thậm chí còn cho thấy khả năng tách đường khớp khẩu cái, đặc biệt khi dùng ở những bệnh nhân trong giai đoạn sớm của bộ răng hỗn hợp. Nó là một khí cụ lý tưởng để điều trị cắn chéo một bên. Ưu điểm của nó so với khí cụ ốc vít là có khả năng nong rộng khác nhau ở vùng răng cối lớn và cối nhỏ.

Khí cụ này bao gồm một dây cung hình omega đường kính 1.2mm, với đáy của omega nằm về phía sau trên đường giữa. Hai cánh nhựa acrylic riêng biệt được làm xung quanh khung dây theo sườn của vòm khẩu, chúng cũng chứa các móc lưu giữ.

5

Hình 3C. Lò xo coffin

Đơn giản chỉ cần kéo hai cánh này ra xa là kích hoạt khí cụ. Điều này nên được thực hiện đầu tiên ở vùng răng cối nhỏ và sau đó là vùng răng cối lớn. Nó cũng có thể kích hoạt bằng kềm three-pong tại đáy của omega,nhưng hiếm khi dùng vì nó có khuynh hướng làm biến dạng lò xo. Cần thực hiện cẩn thận để duy trì hai bờ khí cụ nằm trên cùng một mặt phẳng trong quá trình điều chỉnh. Lý tưởng là làm các lỗ bằng cách khoan trên hai cánh và dùng thước đo lực để đo lượng kích hoạt.

6

Hình 3D. Một lò xo coffin (dây 1.25mm) ngang qua khẩu cái

Quad/Tri/Bi-Helix

Quad-helix được phát triển từ lò xo coffin. Khí cụ là tiền thân của các khí cụ tri- và bi- helix. Chúng được đặt tên theo số lượng các hình xoắn ốc được tích hợp trong khí cụ. Quad helix bao gồm bốn vòng xoắn ốc lằm bằng dây có đường kính 0.038”, hàn vào khâu răng cối lớn. Tăng chiều dài dây cung làm tăng khoảng hoạt động và tính linh hoạt, và giảm mức độ lực. Khí cụ tri- và bi-helix chỉ tích hợp tương tứng ba và hai vòng xoắn.

7

Hình 3E. Khí cụ nong rộng khẩu cái Quad helix

Khí cụ quad-helix gồm hai vòng xoắn phía trước và hai vòng xoắn phía sau. Phần dây giữa hai vòng xoắn phía trước được gọi là cầu trước và phần nối giữa các vòng xoắn phía trước và các vòng xoắn phía sau được gọi là cầu khẩu cái. Đầu tận cùng dây tự do thường gần với vùng răng cối nhỏ và được gọi là cánh tay ngoài. Cánh tay ngoài được hàn vào khâu răng cối lớn.

Khí cụ có khả năng tạo mức độ nong rộng khác nhau, chẳng hạn nó có thể được kích hoạt để tạo mức độ nong rộng khác nhau ở vùng răng cối lớn và răng cối nhỏ. Nó có thể được kích hoạt trước khi gắn khâu bằng cách keo căng khâu răng cối lớn ra hoặc kích hoạt trong miệng bằng cách dùng kềm three-prong. Khi cầu trước được điều chỉnh sẽ tạo khả năng nong rộng vùng răng cối lớn và khi cầu khẩu cái được kích hoạt, vùng răng nanh và răng cối nhỏ được nong rộng.

8

Hình 3Fi. Kích hoạt ở đoạn dây thép phía trươcs giúp nong rộng vùng răng cối lớn

9

Hình 3Fii. Khi cánh tay phía ngoài được kích hoạt, vùng răng cối lớn và cối nhỏ được nong rộng

Khí cụ nong rộng Ni-ti

Loại mới nhất trong một loạt các khí cụ nong rộng là khí cụ nong rộng nikel titanium. Chúng sử dụng hợp kim nikel-titanium có độ đàn hồi cao để tạo lực nong rộng nhẹ từ 300 – 350 gram. Khí cụ nong rộng Niti có sẵn những kích thước khác nhau và có thể gắn vào ống hàn ở mặt trong khâu răng cối lớn.

10

Hình 3G. Khí cụ nong rộng Ni-ti dùng ở bệnh nhân bị khe hở vòm miệng

Khí cụ Schwarz

Đây là khí cụ tháo lắp hình móng ngựa vừa khít với biên giới mặt trong của hàm dưới và có khả năng nong rộng cung hàm dưới.

Bờ trước của nó trải dài bên dưới nướu dọc theo bờ viền nướu mặt trong. Nó có một ốc nới rộng ở đường giữa và được lưu giữ bằng móc.

Khí cụ được kích hoạt mỗi tuần và tạo độ giãn nở 0.25mm tại đường giữa. Nó lý tưởng khi chỉ định ở bộ răng hỗn hợp có chen chúc nhẹ ở vùng răng trước, trong đó vùng răng sau nghiêng trong nhiều. Nó có thể được dùng để bù trừ răng xương ổ răng hàm dưới trước khi dùng khí cụ nong nhanh hàm trên ở cung hàm trên.

11

Hình 3H. Khí cụ Schwarz

 

Nguồn: Gurkeerat Singh (2007), “Textbook of Orthodontics“, 2nd edition, Jaypee Brothers Medical Publishers (P) Ltd

Biên dịch: BS Lương Thị Quỳnh Tâm

Các bài viết về nội nha, chẩn đoán hình ảnh trong nha khoa và chỉnh nha được cập nhật hằng ngày tại:

Bình luận

BS Lương Thị Quỳnh Tâm

https://www.facebook.com/nhap.mon.chinh.nha/

Leave a Reply